Cụ thể, trong tháng 10, EVN đã huy động khoảng 400 triệu kWh sản lượng nhiệt điện dầu, bao gồm các tổ máy của Ô Môn, Cà Mau, Thủ Đức, Phú Mỹ 21, Phú Mỹ 1, Bà Rịa, Nhơn Trạch 1, Nhơn Trạch 2, nhằm đáp ứng phụ tải và tích nước thủy điện phục vụ sản xuất nông nghiệp vụ Đông Xuân 2020 và cấp điện mùa khô 2020.

Từ nay đến cuối năm, sản lượng nhiệt điện dầu dự kiến khai thác có thể lên đến 1,45 tỷ kWh. Lũy kế cả năm 2019, tổng sản lượng dầu dự kiến huy động đạt 2,57 tỷ kWh.

Mặc dù có nhiều khó khăn về nguồn điện, tuy nhiên EVN cam kết đảm bảo cung cấp điện trong các tháng cuối năm 2019

việc EVN phải huy động nguồn điện chạy dầu cao là  trong các tháng cuối năm là do, sản lượng điện huy động từ các nhà máy thủy điện giảm, bởi lưu lượng nước về và mực nước tại các hồ thủy điện rất thấp so với cùng kỳ nhiều năm. Cụ thể, ngoại trừ một số hồ thủy điện ở miền Nam và Tây Nguyên có lưu lượng nước tương đương trung bình nhiều năm, nhiều hồ thủy điện lớn ở Bắc Bộ và Trung Bộ đến nay nước vẫn về thấp hơn rất nhiều so với năm 2018 cũng như trung bình nhiều năm.

Mặc dù gần đây có 2 cơn bão số 5 và số 6 gây mưa diện rộng nhưng chỉ ảnh hưởng chủ yếu đến các hồ khu vực Nam Trung Bộ; còn lại mức nước nhiều hồ thủy điện hiện đang thấp hơn so với cùng kỳ 2018 khoảng từ 8 - 16m. Điển hình như: hồ Lai Châu thấp hơn 10,5m; hồ Sơn La thấp hơn 15,7m; hồ Hòa Bình thấp hơn 8,2m; hồ Hủa Na thấp hơn 12,3m; hồ Cửa Đạt thấp hơn 11,2m,...

Tổng dung tích hữu ích hiện có ở các hồ chứa thủy điện thiếu hụt so với mực nước dâng bình thường khoảng gần 11 tỷ m3, trong đó riêng đối với 3 hồ chứa lớn lưu vực sông Hồng (Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình) đã thiếu hụt gần 7,3 tỷ m3.

Tổng sản lượng điện huy động từ thủy điện 2 tháng cuối năm dự kiến chỉ đạt 10,6 tỷ kWh, thấp hơn 2,4 tỷ kWh so với kế hoạch năm. Ước tính, năm 2019, tổng sản lượng thủy điện chỉ đạt 65,3 tỷ kWh, thấp hơn 9,9 tỷ kWh so với kế hoạch năm.

Bên cạnh đó, việc cung ứng than cho phát điện cũng đang gặp nhiều khó khăn; nguồn khí trong nước suy giảm. Công suất các nguồn năng lượng tái tạo đã được đưa vào vận hành và dự kiến tiếp tục tăng cao, tuy nhiên dù công suất lắp đặt của toàn bộ các nhà máy điện mặt trời và gió chiếm tỷ trọng khoảng 9% trên tổng công suất nguồn điện cả nước, nhưng sản lượng điện của các nguồn năng lượng tái tạo như điện mặt trời và gió chỉ chiếm khoảng 2,5%.

Mặc dù có nhiều khó khăn về nguồn điện, tuy nhiên EVN cam kết đảm bảo cung cấp điện trong các tháng cuối năm 2019.

Đối với năm 2020, tính toán cân bằng cung cầu điện đến nay cho thấy, việc cung cấp điện vẫn có thể được đảm bảo nếu không có những yếu tố cực đoan, bất thường (thời tiết thủy văn, nước về các hồ thủy điện ở mức tương đương trung bình nhiều năm, phụ tải hệ thống không tăng trưởng đột biến, tình hình cung cấp than, khí đáp ứng yêu cầu phát điện,...), tuy nhiên, sản lượng huy động các nguồn điện chạy dầu có thể ở mức rất lớn, lên tới 8,6 tỷ kWh.

Tham gia đoàn công tác có đại diện các ban chuyên môn của EVN như ban Chiến Lược, ban Kinh doanh Thị trường điện, Ban Tổng hợp. Từ phía EVNGENCO1, có ông Nguyễn Hữu Thịnh, Tổng giám đốc EVNGENCO1, ông Trần Việt Anh, Chủ tịch HĐTV CTCPNĐ Quảng Ninh cùng đại diện các ban chuyên môn. 

Đoàn công tác đến thăm nhà máy NĐ Quảng Ninh

Đoàn công tác đã đi khảo sát thực tế tại nhà máy. Tại đây, ông Nguyễn Huy Cường và các thành viên trong đoàn đã sơ bộ đánh giá hiện trạng các thiết bị của nhà máy.

Buổi làm việc nối tiếp bằng cuộc họp với cá bộ phận chuyên môn. Đại diện CTCPNĐ Quảng Ninh đã báo cáo về tình hình vận hành và các giải pháp giảm suất tiêu hao than tại nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh. Trong đó, có đề cập đến tình hình hoạt động sản xuất điện, những khó khăn vướng mắc kể từ khi nhà máy đi vào vận hành thương mại đến nay với việc xuống cấp của hệ thống thiết bị và ảnh hưởng khách quan của việc thay đổi nhiệt độ của hệ thống nước tuần hoàn. 

Ông Nguyễn Huy Cường, thành viên HĐTV EVN chủ trì buổi làm việc 

Trao đổi với lãnh đạo và bộ phận kỹ thuật EVNGENCO1 và CTCPNĐ Quảng Ninh, các ban chuyên môn của EVN, ông Nguyễn Huy Cường muốn các đơn vị cùng ngồi lại tìm ra giải pháp tối ưu để giảm suất tiêu hao. Trước các đề xuất và giải pháp của lãnh đạo EVNGENCO1 và CTCPNĐ Quảng Ninh đưa ra, ông Nguyễn Huy Cường đã khẳng định sẽ chỉ đạo các ban chuyên môn của Tập đoàn hỗ trợ CTCPNĐ Quảng Ninh và cùng với Ban lãnh đạo EVN xem xét tìm hướng giải quyết.

Chương trình đào tạo được Tổng công ty Phát điện 1 phối hợp với Công ty Cổ phần Đào tạo và nghiên cứu quản lý kinh tế tổ chức, diễn ra trong vòng một ngày. Các học viên tham gia là các lãnh đạo và cán bộ kỹ thuật của cơ quan EVNGENCO1 và các đơn vị trong Tổng công ty. 

PTGĐ Trần Việt Anh phát biểu khai mạc chương trình đào tạo 

Chương trình đào tạo được kỳ vọng sẽ nâng cao nhận thức về các thành tựu cơ bản của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, gợi mở các giải pháp gắn ứng dụng vào sản xuất kinh doanh của Tổng công ty và các đơn vị.

Tham dự chương trình, các học viên đã được nghe các chuyên gia chia sẻ về các vấn đề như: Những thành tựu cơ bản của CMCN 4.0 và những giải pháp gần với hoạt động SXKD (IoT, AI, BigData, Blockchain); Nguyên lý công nghệ IoT phương hướng ứng dụng ý tưởng vào các lĩnh vực của TCT (cách thức, nguyên lý triển khai cơ bản); Nguyên lý công nghệ AI phương hướng ứng dụng ý tưởng vào các lĩnh vực của TCT; Nguyên lý công nghệ AI phương hướng ứng dụng ý tưởng vào các lĩnh vực của TCT; Nguyên lý về Blockchain, phương hướng ứng dụng ý tưởng vào các lĩnh vực của TCT.

"Cách mạng công nghiệp đầu tiên sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hóa sản xuất. Cuộc cách mạng lần 2 diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt. Cuộc cách mạng lần 3 sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất. Bây giờ, cuộc Cách mạng Công nghiệp Thứ tư đang nảy nở từ cuộc cách mạng lần ba, nó kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học".

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) với xu hướng phát triển dựa trên hệ thống kết nối số hóa - vật lý - công nghệ sinh học, trong đó sự đột phá của Internet và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi nền sản xuất, tác động mạnh mẽ tới doanh nghiệp (DN). Là nước đang phát triển, việc tiếp cận những thành tựu của CMCN 4.0 là con đường ngắn nhất để các DN Việt Nam bứt phá, tận dụng các cơ hội để giảm chi phí, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, gia tăng vị thế cạnh tranh trên thị trường…

Chương trình Ngày hội Văn hóa Cơ quan Tổng công ty năm 2019 một trong những sự kiện nhằm đẩy mạnh các hoạt động thực thi Văn hóa doanh nghiệp, hướng tới kỷ niệm 65 năm ngày truyền thống ngành điện (21/12/1954 – 21/12/2019) và nhằm tăng cường tinh thần đoàn kết, gần gũi, gắn bó trong CBCNV cùng hướng tới mục tiêu chung của Tổng công ty Phát điện 1.

Đây là hoạt động nhiều ý nghĩa thể hiện sự quan tâm lớn của Ban lãnh đạo Tập đoàn đến đời sống tinh thần, đồng thời phát huy giá trị tập thể cũng như tạo sân chơi giao lưu, thắt chặt hơn tình đoàn kết và tạo động lực các CBCNV trong Tổng công ty. Đồng thời góp phần tạo bầu không khí thư giãn thoải mái để giảm căng thẳng trong công việc hằng ngày; xóa đi khoảng cách giữa các cá nhân trong tập thể, mọi thành viên trong Cơ quan Tổng công ty cùng tạo thành một khối thống nhất đồng thuận trong gia đình EVNGENCO1, cùng tôn vinh giá trị cốt lõi trong Văn hóa EVNGENCO1: Chất lượng – Tín nhiệm, Tận tâm – Trí tuệ, Hợp tác – Chia sẻ, Sáng tạo – Hiệu quả.

Nằm trong các hoạt động Ngày hội Văn hóa Cơ quan EVNGENCO1 năm 2019, Chương trình Tập huấn Văn hóa doanh nghiệp với Chủ đề: EVNGENCO1 - Kích hoạt năng lượng thành công được chọn là hoạt động mở đầu với mục tiêu tạo động lực, hứng khởi, phát huy tiềm năng sáng tạo và nhiệt tình của CBCNV trong công việc, đồng thời tăng cường tình đoàn kết, gắn bó giữa Lãnh đạo và CBCNV, hướng tới mục tiêu chung của Tổng công ty Phát điện 1. 

Ông Nguyễn Tiến Khoa, Chủ tịch HĐTV EVNGENCO1 phát biểu tại chương trình

Phát biểu tại chương trình, Ông Nguyễn Tiến Khoa, Chủ tịch HĐTV Tổng công ty Phát điện 1 đã khẳng định: khi đến với EVNGENCO1, mỗi cá nhân đều từ nhiều đơn vị, nhiều vùng miền và đều mang bản sắc riêng, nhưng mỗi bản sắc đó chính là một thành tố góp phần hình thành nên bản sắc chung mang tên Văn hóa EVNGENCO1. 

Các hoạt động văn hóa - thể thao tiếp theo là Chương trình teambuilding và Giải thi đấu tennis, các hoạt động này đã thu hút được sự tham gia của đông đảo CBCNV góp phần gắn kết tinh thần tập thể và nạp đầy năng lượng cho những giai đoạn bùng nổ sắp tới.

Các thành viên đã cùng nhau trải nghiệm nhiều cung bậc cảm xúc, mọi người không phân biệt là lãnh đạo hay nhân viên cùng khoác vai nhau tham gia hết mình vào  trò chơi  vui nhộn hay cuộc thi đấu thể thao gay cấn, không chỉ mang lại những tiếng cười sảng khoái, tinh thần thể thao cao thượng mà còn giúp mọi người gắn kết với nhau hơn. Các hoạt động không chỉ đòi hỏi sức khỏe, sự dẻo dai mà còn yêu cầu mỗi thành viên phải ăn ý, đoàn kết và chơi hết mình, đó chính là thông điệp của chương trình "Kết sức mạnh - Nối thành công".

Một số hình ảnh trong Ngày hội văn hóa EVNGENCO1: 

Lan tỏa năng lượng tích cực, tư duy tích cực để hướng tới thành công 

Chúc mừng sinh nhật các CBCNV có sinh nhật trong tháng 11

Giải thi đấu Tennis thành công hơn mong đợi 

Hào hứng tham gia hoạt động teambuilding 

Ngày hội văn hóa là một trong những sự kiện được các thành viên gia đình EVNGENCO1 mong chờ nhất trong năm

Tổng giám đốc Nguyễn Hữu Thịnh chủ trì cuộc họp 

Cũng tại Hội nghị tình hình sản xuất kinh doanh và đầu tư xây dựng của Tổng công ty Phát điện 1 đã được đề cập. 

 

Kết quả SXKD & ĐTXD tháng 10 và 10 tháng đầu năm 2019

 Hoạt động SXKD- ĐTXD tháng 10 của Tổng công ty Phát điện 1 diễn ra trong tình hình thủy văn đã có cải thiện. Tuy nhiên đến cuối tháng 10/2019, mực nước tại một số hồ thủy điện của EVNGENCO1 vẫn ở mức thấp. Kết quả sản lượng điện thực hiện tháng 10 của EVNGENCO1 đạt 2.708 triệu kWh, bằng 91,03% kế hoạch tháng và tương đương 118% so với cùng kỳ năm 2018. Lũy kế 10 tháng đầu năm, sản lượng điện sản xuất đạt 31.698 triệu kWh, tương đương 85,2% kế hoạch năm 2019.

Các nhà máy thủy điện thuộc Tổng công ty Phát điện 1 đang vận hành ổn định, chào giá và công suất theo nhu cầu cấp nước hạ du và theo điều động của Trung tâm điều độ Hệ thống điện quốc gia (A0). Các tổ máy nhiệt điện có độ khả dụng chưa cao.

 EVNGENCO1 luôn xác định công tác đảm bảo nhiên liệu phục vụ sản xuất vẫn là nhiệm vụ trọng tâm. Công tác cung ứng than nhập khẩu cho NMNĐ Duyên Hải 3 đến nay đáp ứng nhu cầu vận hành của hệ thống, tuy nhiên chưa đáp ứng lượng tồn kho dự phòng. Đối với than nội địa, tình hình cấp than của TKV và TCT Đông Bắc đáp ứng yêu cầu. Để đảm bảo than tồn kho cuối năm theo thiết kế phục vụ vận hành mùa khô 2020, EVNGENCO1 đã đề nghị TKV và TCT Đông Bắc cấp than theo điều khoản thêm 5% khối lượng hợp đồng đã ký kết. Cung ứng than cho NMNĐ Duyên Hải 1 vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Tổng công ty đã và đang thực hiện đồng bộ các giải pháp, cụ thể là lập kế hoạch điều phối, tiếp nhận và nâng cao năng suất bốc dỡ than tại Cảng biển TTĐL Duyên Hải; bám sát, đôn đốc các nhà cung cấp để đảm bảo sản lượng như hợp đồng đã ký kết. Đồng thời, EVNGENCO1 cũng đã triển khai các thủ tục đấu thầu mua bổ sung than để bù đắp lượng than thiếu hụt, đảm bảo lượng than tồn kho.

Về đầu tư - xây dựng (ĐTXD), đối với các dự án do EVNGENCO1 làm chủ đầu tư, giá trị khối lượng thực hiện tháng 10 đạt 335 tỷ đồng. Lũy kế 10 tháng đầu năm, giá trị khối lượng thực hiện là 10.392 tỷ đồng, tương đương 81,1% kế hoạch; giá trị giải ngân đạt 10.313 tỷ đồng, tương đương 80% kế hoạch. Đối với Dự án NMNĐ Duyên Hải 3 mở rộng (do EVN làm chủ đầu tư; EVNGENCO1 và đại điện là Ban QLDA Nhiệt điện 3 là đơn vị tư vấn quản lý dự án), giá trị đầu tư xây dựng tháng 10 là  269 tỷ đồng. Lũy kế 10 tháng đầu năm, giá trị đầu tư xây dựng và giá trị giải ngân lần lượt đạt 2.278 tỷ đồng (tương đương 69,9% kế hoạch) và 2.237 tỷ đồng (tương đương 68,8% kế hoạch).

Tình hình thực hiện triển khai các dự án đầu tư xây dựng đã có những biến chuyển. Đối với dự án Đa Nhim mở rộng, ngày 23/9/2019, Công ty CP Nhiệt điện Đa Nhim – Hàm Thuận – Đa Mi đã trình Bộ Công thương về việc đề nghị thay đổi biện pháp thi công hạng mục đường hầm dẫn nước từ đào bằng TBM sang khoan nổ truyền thống, dự kiến hoàn thành các thủ tục trình duyệt và triển khai 929m bằng khoan nổ từ đầu năm 2020. Dự án NMNĐ Duyên Hải 3 Mở rộng đã đã đốt than lần đầu ngày 23/10/2019 và đang tiếp tục đốt than để hiệu chỉnh, dự kiến đưa hơi vào Tuabin lần đầu ngày 09/11. Các dự án khác của Tổng công ty Phát điện 1 đang thực hiện đúng tiến độ đề ra.

Về công tác cổ phần hóa (CPH) Công ty mẹ - Tổng công ty Phát điện 1, EVNGENCO1 đã thực hiện đồng bộ các giải pháp liên quan đến xử lý nhà đất khi cổ phần hóa theo quy định. Đến nay, 10/10 tỉnh, thành phố đã phê duyệt xong phương án sắp xếp xử lý các cơ sở nhà, đất của các đơn vị trực thuộc Tổng công ty và 09/10 tỉnh, thành phố phê duyệt phương án sử dụng đất sau CPH của EVNGENCO1. Tổng công ty Phát điện 1 đã trình các cấp có thẩm quyền về việc điều chỉnh thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp vào thời điểm 1/1/2020 để phù hợp với các quy định tại Nghị định 126/2017/NĐ-CP. Đồng thời, để lành mạnh hóa tài chính, EVNGENCO1 cũng đang tiến hành thoái vốn tại các công ty cổ phần theo chỉ đạo.

Nhiệm vụ trọng tâm tháng 11 và 2 tháng cuối năm 2019.

Trong 2 tháng cuối năm 2019, nhiệm vụ trọng tâm của EVNGENCO1 sẽ là đảm bảo các tổ máy vận hành ổn định, đáp ứng yêu cầu huy động của A0. Trong đó, Các NMTĐ vận hành đảm bảo cấp nước hạ du và mực nước giới hạn do A0 công bố, ưu tiên tích nước phục vụ vận hành mùa khô 2020; Các NMNĐ đảm bảo phát sản lượng cao và tăng cường dự trữ than theo thiết kế để đảm bảo vận hành các tháng mùa khô 2020.

Về các giải pháp để đảm bảo nguồn than, EVNGENCO1 sẽ tiếp tục triển khai ký kết hợp đồng dài hạn với TKV/TCT Đông Bắc để ổn định nguồn than cho các nhà máy sử dụng than nội địa. Đồng thời, EVNGENCO1 sẽ triển khai nhập khẩu than Anthracite từ Nam Phi để trộn thử nghiệm với than nội địa. Đối với than nhập khẩu, EVNGENCO1 sẽ triển khai ký hợp đồng mua bán than trung và dài hạn để đảm bảo nguồn than cho NMNĐ Duyên Hải 3 vận hành liên tục với công suất cao trong các năm 2019-2020. Đồng thời, EVNGENCO1 sẽ thực hiện các giải pháp ngắn hạn nhằm nâng cao năng suất bốc dỡ Cảng Duyên Hải như đẩy nhanh công tác nạo vét luồng, bổ sung khu neo đậu tàu...

Về ĐTXD, EVNGENCO1 sẽ thực hiện kiểm soát chặt chẽ về tiến độ và giám sát chất lượng công trình xây dựng theo quy định hiện hành tại các dự án đang triển khai thi công và yêu cầu nhà thầu thực hiện đồng bộ các giải pháp để đẩy nhanh tiến độ. Dự kiến, dự án NMNĐ Duyên Hải 3 Mở rộng sẽ hoàn thành mốc tiến độ hòa đồng bộ trước ngày 15/11/2019. Đối với dự án NMTĐ Đa Nhim mở rộng, mục tiêu hoàn thành các thủ tục thay đổi biện pháp thi công hầm và triển khai thi công đoạn hầm còn lại từ 01/01/2020. EVNGENCO1 cũng đang đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án: mở rộng mái che kho than của NMNĐ Duyên Hải 1 và 3; Dự án chạy tàu trên lớp bùn loãng và bổ sung quy hoạch Dự án điện gió Bến Tre.

 Trong công tác CPH, các tháng cuối năm 2019, EVNGENCO1 sẽ tiếp tục bám sát các cấp có thẩm quyền để phê duyệt phương án sắp xếp, xử lý nhà đất phục vụ cổ phần hóa; thoái vốn tại các công ty cổ phần để lành mạnh hóa tài chính và triển khai các công việc liên quan theo quy định, đảm bảo thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp vào 01/01/2020.

Mở đầu cuộc họp, Tổng giám đốc thông báo nhanh về diễn biến phức tạp của bão Nakri theo thông tin thu thập được từ Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Trung ương và các nguồn tin khác có liên quan. Tại cuộc họp, Tổng Giám đốc chỉ đạo P.KTAT và các đơn vị lập ngay phương án ứng phó thiên tai tại các công trình nguồn điện trước khi cơn bão Nakri đổ bộ vào đất liền, đặc biệt là khu vực nhà máy điện mặt trời Đa Mi. Theo phương án được duyệt, công tác ứng phó thiên tai được lập chi tiết trong 03 giai đoạn: Trước, trong và sau khi bão độ vào đất liền.

Triển khai công tác ứng phó bão Nakri

Ngay trong ngày 8/11, lực lượng xung kích Phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn của Công ty được thông báo giữ liên lạc và luôn trong tư thế sẵn sàng huy động. Các hạng mục công trình thuộc các nhà máy điện như hệ thống thoát nước xung quanh các nhà máy, đường ống áp lực nhà máy thủy điện Đa Nhim, các hạng mục công trình thuộc Dự án mở rộng nhà máy thủy điện Đa Nhim… được đồng loạt kiểm tra và có biện pháp xử lý ngay trong ngày 8/11. Đi kèm theo đó, công tác chuẩn bị vật tư, hậu cần và chăm sóc y tế được Tổng Giám đốc chỉ đạo P.HCLĐ và P.KHVT chuẩn bị và hoàn thành trước ngày 09/11.

Rà soát phương án ứng phó bão Nakri

Đối với nhà máy điện mặt trời Đa Mi, từ ngày 08 đến ngày 09/11, các bộ phận sẽ phối hợp kiểm tra đường dây truyền tải 110kV, hệ thống phao neo, các mảng pin, cầu phao… và thực hiện gia cố cần thiết trước khi bão Nakri đổ bộ vào đất liền. Bên cạnh đó, công tác tuần tra, kiểm tra trong khu vực lòng hồ Đa Mi để ngăn ngừa tàu bè, vật lạ có khả năng trôi dạt vào các mảng pin cũng được tiến hành trong ngày.

Nhà máy điện mặt trời Đa Mi được đưa vào vận hành thương mại từ ngày 01/06/2019 và đây là lần đầu tiên chịu ảnh hưởng của bão. Hồ Đa Mi có diện tích mặt thoáng khoảng 600 ha, các mảng pin được lắp đặt trên mặt hồ nên sẽ chịu ảnh hưởng đáng kể khi có gió lớn ập vào. Do đó, công tác kiểm tra, gia cố hệ thống phao, neo cho các mảng pin được Lãnh đạo Công ty đặc biệt chú trọng.

Vị trí và hướng di chuyển của bão số Nakri. (Ảnh: NCHMF)

Mặc dù bão Nakri ảnh hưởng trực tiếp từ Quãng Ngãi đến Khánh Hòa nhưng hoàng lưu của bão sẽ kèm theo mưa và gió lớn gây ảnh đến các khu vực lân cận như Ninh Thuận và Bình Thuận. Lãnh đạo và CB/CNV Công ty ĐHĐ đang trong tư thế sẵn sàng ứng phó với bão Nakri để đảm bảo an toàn cho các công trình, duy trì ổn định công tác vận hành và sản xuất điện.

Hội nghị diễn ra từ nhằm đánh giá tính tuân thủ Quy chế Quản lý nội bộ (QCQLNB) trong Tập đoàn và các đơn vị thành viên trong giai đoạn 2017-2019, đồng thời tiếp tục rà soát để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với sự phát triển của EVN trong giai đoạn mới.

Phát biểu khai mạc Hội nghị, ông Nguyễn Minh Khoa, Trưởng Ban Pháp chế EVN cho biết: "Sau 4 lần rà soát (năm 2008, 2011, 2014 và 2016), hệ thống QCQLNB của EVN đã được tinh gọn từ hơn 230 Quy chế, Quy định, Quy trình và nhiều văn bản hướng dẫn có tính chất như QCQLNB, xuống còn 47 QCQLNB áp dụng trong Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam và áp dụng trong Cơ quan Tập đoàn Điện lực Việt Nam." 

Tại các tổng công ty trực thuộc, sau khi rà soát số lượng QCQLNB cũng giảm đáng kể. Trong đó, các đơn vị trực thuộc EVN, các đơn vị trực thuộc các tổng công ty sẽ áp dụng trực tiếp QCQLNB của EVN, của Tổng công ty nên số lượng do các đơn vị ban hành cũng giảm hẳn.

Bên cạnh đó, trong 3 năm qua, EVN và các đơn vị đã tổ chức khoảng hơn 700 đợt tập huấn, tuyên truyền phổ biến pháp luật, QCQLNB và các chuyên đề khác cho 90.227 lượt CBCNV. Thường xuyên cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật và các QCQLNB do EVN, các đơn vị để hình thành một hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ yêu cầu của công tác quản lý.

Cổng Thông tin pháp chế EVN cũng được vận hành từ năm 2016, trở thành nơi tập hợp và trao đổi kiến thức về công tác pháp chế nhanh và hiệu quả trong Tập đoàn. Các cuộc thi tìm hiểu pháp luật hàng tuần trên Cổng thông tin này đã thu hút được 13.703 lượt tham gia trong giai đoạn 2016-2018.

EVN cũng đã hướng dẫn các đơn vị tích cực triển khai các hoạt động thực hiện Ngày pháp luật hàng năm (09/11) với nhiều hình thức phong phú, hiệu quả. Một số đơn vị thuộc EVN đã xây dựng thư viện điện tử, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu kiến thức pháp luật cho người lao động, tập huấn kỹ năng tư vấn pháp luật, phát hành chuyên san “tuân thủ pháp luật”, biên soạn nội dung các QCQLNB thành ngân hàng câu hỏi để phục vụ cho công tác thi nâng lương, nâng bậc,… trong đơn vị.

Ngay sau khai mạc là chương trình tọa đàm, đại diện các đơn vị chia sẻ những kinh nghiệm, cách làm hay, hiệu quả để triển khai thực hiện QCQLNB. 

Một số hình ảnh tại buổi khai mạc Hội nghị Thực hiện Quy chế Quản lý nội bộ của EVN:

Ông Nguyễn Minh Khoa, Trưởng Ban Pháp chế EVN phát biểu khai mạc Hội nghị.

Chương trình tọa đàm về thực hiện QCQLNB.

Các đại biểu sôi nổi thảo luận và chia sẻ kinh nghiệm trong việc phổ biến, tuyên truyền QCQLNB của EVN đến CBCNV.

Tiến hành lấy mẫu nước tại hồ Đa Mi

Theo nội dung Kế hoạch bảo vệ môi trường đã được ADB thông qua, Công ty ĐHĐ cần thực hiện đánh giá hàng quý về đa dạng sinh học tại hồ Đa Mi khi nhà máy điện mặt trời đi vào vận hành. Trong đó, nội dung đánh giá chất lượng nước mặt theo các chỉ tiêu hóa lý và đánh giá tác động của Dự án đến hệ thủy sinh tại vị trí lắp đặt các mảng pin mặt trời cần được thực hiện trong Quý IV năm 2019. Theo yêu cầu của ADB, Công ty ĐHĐ thực hiện đánh giá chất lượng nước mặt và lấy mẫu phân tích phiêu sinh vật tại các tầng nước với độ sâu 10m, 20m và 30m tại 04 vị trí khác nhau trong khu vực thi công Dự án.

Lấy mẫu nước tại các mảng pin

Để thực hiện các nội dung theo yêu cầu của ADB, Công ty ĐHĐ đã phối hợp với Công ty cổ phần khoa học công nghệ phân tích môi trường Biển Đức thực hiện đầy đủ các nội dung theo Kế hoạch bảo vệ môi trường đã được ADB thông qua. Kết quả giám sát môi trường Quý IV sẽ được Công ty ĐHĐ báo cáo đến các ADB và các cơ quan liên quan để phối hợp theo dõi.

Đo nồng độ Oxy hòa tan tại điểm lấy mẫu

Công ty cổ phần khoa học công nghệ phân tích môi trường Biển Đức là thành viên thuộc League Group, Công ty hoạt động hàng đầu trong lĩnh vực môi trường, đào tạo và tư vấn đánh giá tư vấn công nhận phòng thí nghiệm tại Việt Nam. Công ty Biển Đức có hơn 10 năm kinh nghiệm hoạt động trên hầu hết các lĩnh vực phục vụ cho công tác bảo vệ môi trường, tư vấn, xét nghiệm, kiểm định trong phòng thí nghiệm.

Điểm cầu tại Văn phòng Bảo Lộc

Là đơn vị chủ trì xây dựng chương trình hội thảo, Phòng Kỹ thuật và An toàn (P. KTAT) đã trình bày lần lượt 03 chuyên đề chính gồm: Tổng quan các quy định về quản lý chất thải tại Việt Nam; Các quy định về nước thải và Quản lý PCB (Polychlorinated Biphenyls). Buổi hội thảo đã diễn ra trong không khí sôi nổi, cởi mở với nhiều ý kiến trao đổi về công tác bảo vệ môi trường đang thực hiện tại Công ty.

Tại chuyên đề về quản lý chất thải, P. KTAT trình bày chi tiết các thuật ngữ liên quan đến chất thải, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và các văn bản pháp luật có liên quan. Chuyên đề này giúp CB/CNV hiểu rõ các định nghĩa về chất thải, chất thải rắn, chất thải nguy hại, chất thải rắn công nghiệp và phế liệu. Bên cạnh đó, các khái niệm về cơ sở phát sinh chất thải, chủ nguồn thải, cơ sở xử lý chất thải…được P. KTAT giải thích chi tiết kèm theo ví dụ cụ thể đã thỏa mãn các câu hỏi của đại biểu tham gia hội thảo. Nội dung thảo luận về phân loại rác thải được các đại biểu quan tâm và đóng góp ý kiến sôi nổi nhất. Để làm tốt công tác bảo vệ môi trường, công tác phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải…cần phải thực hiện đúng quy định. Công ty ĐHĐ sẽ tổ chức phân loại chất thải không chỉ trong khu vực sản xuất kinh doanh mà còn tại các khu nhà trực vận hành để từng CB/CNV và người thân nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, đảm bảo mỹ quan tại nơi làm việc và nơi ở. Là đơn vị có kinh nghiệm làm việc với các Tổ chức tài chính Quốc tế như JICA và ADB thông qua các dự án phát triển nguồn điện, Công ty ĐHĐ hiểu rõ các quy định Quốc tế về môi trường - xã hội khi thực hiện các dự án và đang áp dụng các quy định này vào thực tiễn vận hành, sản xuất để nơi làm việc ngày càng thân thiện với môi trường, đáp ứng các quy định của pháp luật Việt Nam.

P. KTAT trình bày tại hội thảo

Nhằm giúp CB/CNV nắm rõ những quy định pháp luật về môi trường, P. KTAT giới thiệu các nội dung cơ bản Luật Bảo vệ môi trường số 09/2014/QH13, các Nghị định 38/2015/NĐ-CP và 40/2019/NĐ-CP. Nội dung trình bày của P.KTAT đã giúp CB/CNV hiểu rõ quy định pháp luật về công tác bảo vệ môi trường, qua đó nâng cao nhận thức trách nhiệm bản thân trong công tác phân loại, thu gom và xử lý chất thải.

Tại chuyên đề về nước thải, các đại biểu quan tâm nhiều đến việc xử lý nước thải sinh hoạt tại các nhà máy thủy điện. Các nhà máy thủy điện hoạt động trên nguyên tắc sử dụng nguồn nước để phát điện mà không làm thay đổi chất lượng nước trong quá trình chạy máy. Tuy nhiên, Lãnh đạo công ty đã chỉ đạo các phòng ban trong Công ty kiểm tra chặt chẽ hơn nữa quá trình xử lý nước thải trong công tác vệ sinh thiết bị, đề nghị các đơn vị thu gom và xử lý nước thải đúng quy định về môi trường.

Điểm cầu NMTĐ Đa Nhim

Về nội dung chuyên đề quản lý chất PCB, P. KTAT đã giới thiệu lịch sử phát minh và sử dụng loại hóa chất này trong sản xuất công nghiệp và tác hại của nó đối với cơ thể con người. Chất PBC tồn tại trong các máy biến áp đã lỗi thời sử dụng dầu cách ly sản xuất theo công nghệ cũ. Thực hiện chương trình hành động Quốc gia theo Công ước Stockholm, Công ty ĐHĐ đang lập kế hoạch xử lý các máy biến áp có PCB và thuê đơn vị chức năng xử lý dầu các biến áp trước năm 2025, đồng thời lưu trữ xác máy biến thế tại kho chất thải nguy hại và xử lý theo quy định về môi trường.

Bảo vệ môi trường không còn là trách nhiệm của nhà nước nữa mà đó là trách nhiệm của từng mỗi cá nhân trong xã hội. Môi trường sống trong sạch sẽ giúp cải thiện đáng kể sức khỏe cộng đồng, tạo ra cảnh quang làm việc thân thiện, sạch đẹp đem lại cảm giác thoải mái khi làm việc. Mỗi CB/CNV Công ty ĐHĐ đều mong muốn được làm việc trong môi trường xanh, sạch, đẹp ấy. Để đạt được mong muốn ấy, Công ty ĐHĐ từng ngày tiếp tục hoàn thiện công tác bảo vệ môi trường tại nơi ở và nơi làm việc như chỉ đạo của Tổng Giám đốc Lê Văn Quang tại buổi hội thảo: “Công ty ĐHĐ phải thực hiện ngày càng tốt hơn nữa công tác bảo vệ môi trường. Đó là trách nhiệm của chúng ta đối với cộng đồng và xã hội”.

Tham dự cuộc họp còn có đ/c Phạm Viết Hùng – TV HĐTV EVNGENCO1, đ/c Phùng Văn Sinh – TV HĐTV EVNGENCO1, Đ/c Nguyễn Trung Khang - Kiểm soát viên EVN tại EVNGENCO1, Lãnh đạo các Ban Tổng Hợp, Kế hoạch, KTSX, QLĐTXD, Thị trường điện, TCNS – Tổng Công ty; Ban Giám đốc, các Chuyên gia, Quản lý các Phòng/ Phân xưởng Công ty Nhiệt điện Duyên Hải.

Đ/c Nguyễn Tiến Khoa - Chủ tịch HĐTV EVNGENCO1 chủ trì buổi làm việc

Tại buổi làm việc đồng chí Nguyễn Văn Thú – Bí Thư Đảng ủy, Giám đốc Công ty đã báo cáo chi tiết kết quả thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của Công ty trong 10 tháng đầu năm và kế hoạch 2 tháng cuối năm 2019. Theo báo cáo, tính đến hết ngày 31/10/2019, Công ty đang thực hiện và hoàn thành tốt công tác sản xuất kinh doanh với tổng sản lượng điện sản xuất của 2 nhà máy là 13.572 triệu kWh, đạt 89,88 % kế hoạch năm. Sản lượng điện cần sản xuất để đạt kế hoạch năm 2019 là 1.528 triệu kWh.

Bên cạnh đó, đ/c Nguyễn Văn Thú cũng báo cáo Chủ tịch HĐTV các khiếm khuyết, tồn tại các thiết bị chính và phụ trợ của các nhà máy DH1 và DH3; khả năng cấp nước cung cấp cho Trung tâm điện lực Duyên Hải của hệ thống cấp nước thô; công tác chuẩn bị VTTB phục vụ bảo dưỡng, sửa chữa đến hết năm 2019 và năm 2020; tình hình cung cấp than, kế hoạch cung ứng than theo hợp đồng và khả năng đáp ứng của đơn vị cung cấp đến cuối năm 2019 và năm 2020; các kiến nghị nhằm nâng cao năng suất bốc dở than.

Đ/c Nguyễn Văn Thú – Giám đốc Công ty báo cáo tại buổi làm việc

Sau khi nghe báo cáo của Công ty Nhiệt điện Duyên Hải và ý kiến của các Chuyên gia, các thành viên HĐTV, Lãnh đạo các Ban – Tổng Công ty, Chủ tịch Nguyễn Tiến Khoa kết luận:

Chủ tịch biểu dương, đánh giá cao những nỗ lực và kết quả mà Lãnh đạo và CB.CNV Công ty đã thực hiện trong 10 tháng đầu năm 2019; với sản lượng 13.5 tỷ kWh đã đạt được đến hiện tại, ông tin tưởng trong 2 tháng còn lại Công ty Nhiệt điện Duyên Hải sẽ hoàn thành sản lượng mà Tổng công ty giao trong năm 2019.

Đối với kế hoạch thực hiện nhiệm vụ 2 tháng cuối năm 2019 và năm 2020, Chủ tịch đề nghị Công ty cần tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được trong 10 tháng đầu năm 2019; không được chủ quan với những kết quả đã đạt được, quyết tâm hoàn thành vượt sản lượng điện được giao.

Đối với các giải pháp nâng cao năng suất bốc dở than mà Công ty Nhiệt điện Duyên Hải đề xuất tại báo cáo. Chủ tịch thống nhất và yêu cầu các Ban Tổng Công ty khẩn trương xem xét các giải pháp trên, nghiên cứu, tham mưu cho lãnh đạo Tổng công ty các giải pháp hiệu quả, khả thi nhằm giảm thiểu chi phí nạo vét mà vẫn đảm bảo cung ứng đủ than cho sản xuất trong tình hình cảng bị bồi lắng như hiện nay.

Bên cạnh đó, ông cũng đề nghị Công ty cần kiểm tra, rà soát lại danh mục vật tư thiết bị dự phòng; tổ chức mua sắm kịp thời những VTTB dự phòng để công tác sửa chữa, thay thế vật tư thiết bị được thực hiện kịp thời, nhanh chóng.

Cuối cùng Chủ tịch Tổng công ty nhấn mạnh yếu tố con người quyết định sự thành công của doanh nghiệp, do đó đề nghị Công ty Nhiệt điện Duyên Hải cần phối hợp với Ban TCNS Tổng Công ty thực hiện công tác kiện toàn nhân sự, đặc biệt là các vị trí chủ chốt. Bên cạnh đó, Công ty cần quan tâm hơn đến đời sống của người lao động thông qua đề án xây dựng khu QLVH của dự án nhà máy DH3, vấn đề học tập của con em người lao động.

Hình ảnh Đoàn công tác kiểm tra công tác vận hành tại phòng kiểm soát DH3.

 

9 tháng, cổ phần hóa được 1 doanh nghiệp

Theo số liệu cập nhật của Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, tính đến cuối năm 2018, trong số 19 tập đoàn, tổng công ty do Ủy ban làm đại diện chủ sở hữu, Tổng công ty Vinalines đã thực hiện cổ phần hóa với tổng giá trị doanh nghiệp là hơn 18.000 tỷ đồng; trong đó, giá trị vốn nhà nước là hơn 11.000 tỷ đồng.

Tổng công ty Phát điện 3 thuộc Tập đoàn Ðiện lực Việt Nam (Genco3) hoàn thành cổ phần hóa năm 2018 và hiện đang thực hiện quyết toán cổ phần hóa.

Trong 9 tháng đầu năm 2019, mới có thêm một doanh nghiệp là Công ty TNHH MTV In và phát hành biểu mẫu thống kê do SCIC làm chủ sở hữu hoàn thành cổ phần hóa.

Trong khi đó, VNPT mới dừng ở việc thành lập Ban Chỉ đạo cổ phần hóa và Tổ giúp việc Ban chỉ đạo. Với hai tổng công ty phát điện còn lại là Genco 1 và Genco 2, đại diện Ủy ban cho biết, hiện đang lấy ý kiến về thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp; đồng thời chờ phê duyệt việc xử lý chi phí cổ phần hóa công ty mẹ Genco1 để báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định.

Ðối với Genco2, đến nay, Ủy ban đã có quyết định về dự toán chi phí và lựa chọn tư vấn cổ phần hóa tổng công ty, thông qua dự toán chi phí cổ phần hóa, kế hoạch lựa chọn nhà thầu tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp và tư vấn lập phương án cổ phần hóa Tổng công ty.

Ðối với các doanh nghiệp còn lại, vừa qua, Ủy ban đã có báo cáo đề nghị điều chỉnh lộ trình cổ phần hóa 6 doanh nghiệp thực hiện trong giai đoạn 2019 - 2020, đều là các “ông lớn” nhà nước như TKV, Vinafood1, Vinachem, Mobiphone, VNPT, Vinacafe.

Theo đánh giá sơ bộ của Ủy ban, tổng giá trị vốn nhà nước tại các doanh nghiệp này vào khoảng 138.878 tỷ đồng, dự kiến cổ phần hóa thành công sẽ thu về khoảng 48.764 tỷ đồng.

Vướng vì… đất

Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Hoàng Anh, Chủ tịch Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, khó khăn lớn nhất mà Ủy ban cũng như các doanh nghiệp phải đối mặt trong tiến trình thực hiện cổ phần hóa vẫn là câu chuyện sắp xếp lại các cơ sở nhà đất của các doanh nghiệp trước khi thực hiện các bước tiến hành cổ phần hóa theo quy định.

“Do vậy, việc cổ phần hóa đúng tiến độ đối với 6 tập đoàn, tổng công ty sẽ rất khó khăn trong bối cảnh không còn nhiều thời gian để thực hiện”, ông Hoàng Anh cho biết.

Phần lớn các doanh nghiệp thuộc quyền quản lý của Ủy ban đều có quy mô lớn, phạm vi hoạt động rộng, tài sản phân bố tại nhiều địa phương, chưa kể đều thuộc diện Kiểm toán Nhà nước kiểm toán kết quả xác định giá trị doanh nghiệp nên bản thân Ủy ban và các doanh nghiệp đều khó có thể chủ động kiểm soát về tiến độ thực hiện.

Thực tế triển khai việc sắp xếp đất đai tại các tập đoàn, tổng công ty như VNPT và Vinafood 1 đã cho thấy rõ những khó khăn, bất cập này khiến tiến độ cổ phần hóa của các doanh nghiệp bị kéo dài so với thời hạn quy định, trong đó chậm ở tất cả các khâu chính như phê duyệt kết quả xác định giá trị doanh nghiệp, phê duyệt phương án cổ phần hóa, phê duyệt quyết toán cổ phần hóa…

“Mọi công việc liên quan đến cổ phần hóa chỉ có thể triển khai thực hiện sau khi phương án sử dụng đất được phê duyệt. Doanh nghiệp không thể thực hiện song song việc lập phương án sử dụng đất và xác định giá trị doanh nghiệp, do đó, không thể đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa.

Ngay cả các doanh nghiệp đã thực hiện cổ phần hóa trong giai đoạn chuyển tiếp giữa Nghị định 126 thay thế cho Nghị định 59 hiện nay cũng đang gặp nhiều vướng mắc khi thực hiện quyết toán cổ phần hóa”, đại diện Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp cho biết. 

Các chuyên gia trả lời thảo luận 

Lễ công bố có sự tham dự của ông Hoàng Quốc Vượng, Thứ trưởng Bộ Công Thương, ông Kim Hojlund Christensen, Đại sứ Đan Mạch tại Việt Nam, ông Morten Baek, Quốc vụ khanh, Bộ năng lượng, Hạ tầng kỹ thuật và Khí hậu Đan Mạch.

Cùng dự có đại diện cho các Bộ, ngành, viện nghiên cứu, trường đại học, các tập đoàn, công ty năng lượng trong và ngoài nước, các hiệp hội hoạt động trong lĩnh vực năng lượng, các cơ quan ngoại giao, các tổ chức quốc tế tại Việt Nam…

Báo cáo Triển vọng Năng lượng Việt Nam 2019 là một trong những kết quả hợp tác nổi bật giữa Bộ Công Thương Việt Nam và Bộ Năng lượng, Hạ tầng kỹ thuật và Mội trường Đan Mạch trong khuôn khổ của Chương trình Hợp tác đối tác năng lượng Việt nam – Đan Mạch giai đoạn 2 từ 2017 - 2020.

Phát biểu tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng đã cảm ơn sự hỗ trợ của Chính phủ Đan Mạch và nhấn mạnh, “Báo cáo Triển vọng Năng lượng là sản phẩm có ý nghĩa quan trọng trong định hướng phát triển năng lượng gắn liền với mục tiêu tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và an ninh năng lượng của Việt Nam”.

Báo cáo Triển vọng năng lượng đầu tiên được xây dựng và công bố tại Việt Nam vào năm 2017 với sự hỗ trợ kỹ thuật của Cục Năng lượng thuộc Bộ Năng lượng, Hạ tầng kỹ thuật và Khí hậu Đan Mạch và sự chỉ đạo của Bộ Công Thương.

Nối tiếp hoạt động này, trong Chương trình Hợp tác Đối tác Năng lượng Việt Nam – Đan Mạch giai đoạn 2017-2020, hai bên tiếp tục triển khai xây dựng Báo cáo Triển vọng Năng lượng 2019. Báo cáo được xây dựng với nguồn số liệu có chất lượng tốt, sử dụng các mô hình cấp cao để tính toán các kịch bản phát triển điện nói riêng và năng lượng nói chung, cung cấp các thông tin hữu ích về phát triển hệ thống điện và năng lượng trong ngắn hạn và dài hạn, phù hợp với định hướng của Chính phủ Việt Nam về phát triển năng lượng bền vững gắn liền với mục tiêu bảo vệ môi trường và an ninh năng lượng.

Tháng 11/1997 là một dấu mốc quan trọng, tạo tiền đề cho việc phát triển lưới điện hạ áp nông thôn của Việt Nam khi Nghị quyết kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khóa X (tháng 11/1997) đã nêu: “Giao cho ngành Điện xây dựng quy chế trực tiếp quản lý lưới điện nông thôn, tính lại giá bán điện hợp lý, trước mắt công bố giá trần áp dụng đối với nông thôn; cùng các Bộ hữu quan lập phương án trình Chính phủ quyết định việc đầu tư xây dựng các công trình điện nông thôn theo tinh thần "Nhà nước và nhân dân cùng làm" và đến Nghị quyết kỳ họp thứ 4 của Quốc hội khóa X (từ 28/10-2/1998) đã cụ thể hóa một trong những chỉ tiêu quan trọng: “Phấn đấu nâng số xã có điện lên 71%. Ban hành quy chế ngành điện lực trực tiếp quản lý lưới điện nông thôn”. Song hành với đó là các chỉ đạo kịp thời, quyết liệt của Chính phủ trong việc hiện thực hóa các chỉ tiêu về lưới điện hạ áp nông thôn thông qua hàng loạt các Quyết định, cơ chế chính sách.

Đến nay, sau 22 năm thực hiện và triển khai Nghị quyết kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khóa X, ngành Điện Việt Nam mà trực tiếp là Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã thực hiện tốt và đưa lưới điện hạ áp nông thôn về đích trước thời gian mà Quốc hội quy định.

Từ khi thành lập Tổng công ty Điện lực Việt Nam năm 1995 và nay là Tập đoàn Điện lực Việt Nam, việc cung cấp điện cho khu vực nông thôn luôn được EVN đặc biệt quan tâm trú trọng, một mặt EVN tập trung nguồn vốn đầu tư phát triển lưới điện cấp điện cho các huyện, xã, hộ dân chưa có điện nâng cao tỷ lệ hộ dân được sử dụng điện, một mặt tăng cường công tác quản lý cung cấp điện sau khi lưới điện được xây dựng thông qua việc tiếp nhận quản lý lưới điện hạ áp nông thôn để các hộ dân được sử dụng điện có chất lượng và mua điện theo giá do Chính phủ qui định.

Vào thời điểm những năm 1997, điện l­ưới quốc gia mới được cung cấp đến 426/470 huyện đạt tỷ lệ 90,6%; 5.698/9.022 xã đạt tỷ lệ 63,2% và 6.031/11.881 nghìn hộ dân nông thôn sử dụng điện l­ưới quốc gia – tức là mới chỉ có 50,76% hộ dân nông thôn cả nước tương đương hơn 30 triệu người chưa được sử dụng điện. Nhưng đến năm 2010 cả nước đã có 100% số huyện có điện, năm 2018 có 100% xã có điện và đến nay năm 2019 có 99,47% hộ dân có điện trong đó có 99,18% hộ dân nông thôn có điện. Mức độ phủ điện của Việt Nam đã cao hơn một số nước trong khu vực như Philippine 93%, Indonexia 98,1%, Ấn Độ 92,6%, Lào 93,6%.

Khi tổng kết 15 năm điện khí hóa nông thôn và vận động ODA cho Việt Nam để thực hiện Chương trình Điện khí hóa nông thôn, bà Victoria Kwa Kwa, nguyên Giám đốc Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam đã cho biết, Việt Nam đã thành công rất ấn tượng trong điện khí hóa nông thôn, trở thành mô hình mà WB muốn nhân rộng ở nhiều nước.

Để có được kết quả khả quan và đáng khích lệ về Lưới điện hạ áp nông thôn trong thời gian qua, EVN ta đã thực hiện một khối lượng công việc khổng lồ để cải tạo và đầu tư xây dựng mới lưới điện nông thôn. Tổng số vốn đầu tư lên tới hơn 120.000 tỷ đồng, trong đó riêng nguồn vốn vay ODA của các Tổ chức quốc tế hơn 78.300 tỉ đồng (tương đương 3,7 tỷ USD). Cùng với tiếp nhận lưới điện hạ áp nông thôn thôn, EVN cũng thực hiện tiếp nhận lưới điện và cung cấp điện trực tiếp tại 11/12 huyện đảo: Cát Hải, Bạch Long Vỹ, Vân Đồn, Cô Tô, Cồn Cỏ, Lý Sơn, Phú Quý, Trường Sa, Côn Đảo, Phú Quốc, Kiên Hải. Sau khi tiếp nhận, EVN đã đầu tư tăng cường hệ thống điện, cấp điện bằng lưới điện quốc gia cho các huyện đảo với tổng vốn đầu tư hơn 7.500 tỷ đồng. 

Công tác tăng cường công tác quản lý cung cấp điện tại khu vực nông thôn được EVN thực hiện giải pháp phối hợp với các địa phương tập trung tiếp nhận lưới điện hạ áp nông thôn thôn, giải quyết những bất cập khi các Tổ chức quản lý điện địa phương không đủ năng lực quản lý, hộ dân nông thôn phải đóng góp nhiều chi phí và mua điện với giá cao. Từ xuất phát điểm EVN chỉ quản lý bán điện trực tiếp tại 2.126/8.841 xã có điện chiếm tỷ lệ 24%, EVN đã thực hiện tiếp nhận lưới điện hạ áp nông thôn của hơn 6.000 xã, cung cấp điện trực tiếp tới các hộ dân nông thôn. Sau khi EVN tiếp nhận cải tạo đầu tư tối thiểu bình quân mỗi xã khoảng 1,5 tỷ đáp ứng nhanh nhu cầu sử dụng điện ngay sau khi tiếp nhận và xây dựng kế hoạch đầu tư cho mỗi xã khoảng 5-10 tỷ đồng hoàn chỉnh hệ thống điện.

Với tỷ lệ 100% số xã, phường, thị trấn có điện, việc chuyển cho EVN tiếp nhận và vận hành lưới điện hạ áp nông thôn đã cho thấy sự đúng đắn, kịp thời trong việc thay đổi cơ chế chính sách phù hợp với thực tiễn. Tiếp nhận lưới điện hạ áp nông thôn, tăng tỷ lệ hộ dân được cung cấp điện lên tới 99,18% đã góp phần thực hiện thành công Chương trình Nông thôn mới, đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế tại mọi vùng miền tổ quốc, riêng lĩnh vực nông, lâm ngư nghiệp đã tiếp đà tăng trưởng tốt trên 2% liên tục trong 5 năm qua. Những nỗ lực của EVN cũng đã được Đảng và Chính phủ ghi nhận với việc được trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất vì những đóng góp xuất sắc trong việc thực hiện phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2011-2020 ./.

 Ông Nguyễn Xuân Nam - Phó Tổng Giám đốc EVN và ông Rémi Genevey - Vụ trưởng Vụ châu Á của AFD ký kết Thỏa ước tín dụng cho Dự án Nhà máy Điện mặt trời Sê San 4 

Đây là khoản tín dụng vay không bảo lãnh Chính phủ trị giá 24,2 triệu EUR cho Dự án điện mặt trời Sê San 4; trong đó AFD tài trợ toàn bộ giá trị hợp đồng EPC của dự án.

Dự án điện mặt trời Sê San 4 có tổng công suất 49 MWp, được xây dựng trong phần đất thuộc Nhà máy Thủy điện Sê San 4, tại tỉnh Gia Lai.

Ngoài Dự án điện mặt trời Sê San 4, AFD cũng đã cam kết tài trợ dưới hình thức không bảo lãnh Chính phủ cho Dự án Nhà máy Thủy điện Ialy mở rộng; dự án đầu tư xây dựng lưới điện một số khu vực tại miền Nam (của Tổng công ty Điện lực miền Nam) phục vụ giải tỏa công suất các nguồn năng lượng tái tạo. Đặc biệt, AFD đang xem xét tiếp tục tài trợ cho Dự án Nhà máy Thủy điện Hòa Bình mở rộng.

Phát biểu tại buổi ký kết, ông Nguyễn Xuân Nam - Phó Tổng giám đốc EVN cho biết: EVN đánh giá rất cao sự hỗ trợ và hợp tác của AFD trong việc thu xếp các khoản vay không bảo lãnh Chính phủ cho các dự án điện, đặc biệt trong bối cảnh do trần nợ công, Chính phủ đang siết chặt và tiến tới dừng hoàn toàn việc cấp bảo lãnh cho các dự án nguồn điện của EVN. Hiện nay, EVN đang chủ động đa dạng hóa các kênh huy động tài chính để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư khổng lồ trong các năm tới.

AFD là định chế tài chính quốc tế hoạt động không vì lợi nhuận của Chính phủ Pháp, chuyên cung cấp các khoản vay và viện trợ không hoàn lại cho các tổ chức, doanh nghiệp nhà nước, với tiêu chí tài trợ chủ đạo là giảm phát thải, chống biến đổi khí hậu. Đến nay, AFD là nhà tài trợ đầu tiên và duy nhất cung cấp các khoản vay không bảo lãnh Chính phủ cho EVN để thực hiện các dự án điện. Khoản vay không bảo lãnh Chính phủ đầu tiên của AFD là tài trợ Dự án Nhà máy Thủy điện Huội Quảng trị giá 100 triệu USD, đã ký kết trước đây vào năm 2010.

 

 

 

Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Lê Công Thành chủ trì buổi làm việc. Tham dự buổi làm việc còn đại diện Bộ Công Thương, Bộ NN&PTNT, Công ty Thủy điện Hòa Bình, Sơn La, Tuyên Quang, Huội Quảng - Bản Chát, Thác Bà.

Bộ Tài nguyên và Môi trường làm việc với EVN về tình hình thiếu hụt nước tại các hồ chứa thủy điện trên cả nước

Báo cáo tại buổi làm việc, ông Ngô Sơn Hải cho biết: Trên lưu vực sông Hồng, hiện có 6 hồ chứa thủy điện lớn (Lai Châu, Bản Chát, Sơn La, Hòa Bình, Tuyên Quang, Thác Bà), với tổng dung tích hữu ích 18,91 tỷ m3. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, lượng nước về các hồ trên lưu vực này trong mùa lũ năm 2019 chỉ đạt khoảng 51% so với trung bình nhiều năm.

Theo tính toán của EVN, nếu tần suất nước về các hồ chứa trên lưu vực này tiếp tục duy trì như thời gian qua, sau khi trừ 3,5 tỷ m3 nước xả phục vụ đổ ải vụ Đông Xuân 2020 (theo dự kiến của Bộ NN&PTNT), thì trong các khoảng thời gian còn lại của mùa khô năm 2019 – 2020, chỉ đáp ứng được với lưu lượng trung bình ngày ở mức khoảng 500 đến 550 m3/s đối với hồ Hòa Bình, 91 m3/s đối với hồ Thác Bà, 187 m3/s đối với hồ Tuyên Quang (chưa tính đến các nhu cầu của hệ thống điện). Như vậy, hồ Hòa Bình sẽ không thể đáp ứng được lưu lượng chạy máy theo quy định của Quy trình vận hành liên hồ chứa (600 m3/s đối với các tháng 11, 3, 5; 700 m3/s, các tháng 12, 1 và 800 m3/s đối với các tháng 2, 4).

Ngoài lưu vực sông Hồng, nhiều lưu vực sông lớn khác trên cả nước như Sông Cả, sông Mã, sông Vu Gia – Thu Bồn, sông Sê San, sông Đồng Nai, sông Sêrêpốk mặc dù đã vào mùa lũ chính vụ nhưng cũng đều có lượng nước về thấp, thậm chí nhiều hồ đã qua giai đoạn lũ chính hoặc đang trong kỳ lũ chính vụ nhưng vẫn chưa có dấu hiệu nước về, có hồ đang ở mức nước thấp hơn mực nước chết, điển hình hồ Thủy điện Trung Sơn (thấp hơn mực nước chết 1,82 mét).

“Tính đến ngày 27/10/2019, các hồ chứa thủy điện lớn trên hệ thống mới chỉ tích được khoảng 61% tổng dung tích hữu ích (21,9/35,6 tỷ m3), lượng nước thiếu hụt 13,7 tỷ m3 (tương ứng sản lượng điện thiếu hụt khoảng 6,4 tỷ kWh)”, ông Ngô Sơn Hải cho biết.

Ông Vũ Xuân Khu – Phó Giám đốc Trung tâm Điều độ HTĐ Quốc gia cho biết: Theo nhận định của các cơ quan khí tượng thủy văn, tình hình khô hạn có khả năng tiếp tục xảy ra ở những tháng cuối năm 2019, việc tích nước ở các hồ chứa vẫn sẽ còn rất khó khăn. Do vậy, việc tuân thủ các quy định của Quy trình (đảm bảo mực nước hồ, cấp nước hạ du...), cũng như khả năng tích nước lên mực nước dâng bình thường vào cuối năm các hồ chứa trên lưu vực sông Hồng và gần như là không thể thực hiện được và đối với một số khu vực khác cũng sẽ khó có thể đạt được dung tích hữu ích thiết kế.

“Theo tính toán của EVN, dự kiến năm 2020 ngành Điện sẽ tiếp tục phải đối mặt với thách thức rất lớn trong việc đảm bảo cân bằng cung cầu, dự kiến sẽ phải huy động thêm 7,9 tỷ kWh các tổ máy chạy dầu với giá điện khoảng 4.000-5.000 đ/kWh và có thể tăng lên 12,5 – 16,7 tỷ kWh trong trường hợp không thể tích được các hồ lên mực nước dâng bình thường hoặc phụ tải tăng cao hơn dự báo”, ông Vũ Xuân Khu cho biết.

Chính vì vậy, ngay từ cuối tháng 8/2019, EVN đã tăng huy động tối đa các nguồn nhiệt điện, trong đó có cả nhiệt điện dầu giá cao. 

Để giải quyết những khó khăn nêu trên, EVN kiến nghị Bộ TN&MT chủ trì phối hợp với các bộ, ngành liên quan thống nhất phương án điều tiết, vận hành các hồ chứa thủy điện trên lưu vực sông Hồng như sau: Ngoài thời gian xả nước phục vụ gieo cây vụ Đông Xuân, cho phép NMTĐ Hòa Bình giảm lưu lượng yêu cầu chạy máy xuống mức từ 400 - 450 m3/s, mực nước hồ duy trì ở mức thấp hơn so với quy định, đến ngày 31/12 duy trì ở mức 107m, tránh áp lực phải chạy cao các hồ chứa bậc thang trên nhằm dự trữ năng lượng cho các tháng nắng nóng trong mùa khô đầu năm 2020.

Đối với các lưu vực sông Sê San cho phép điều chỉnh giảm lưu lượng chạy máy tối thiểu của các hồ Pleikrong, Ialy, Sê San 4 trong mùa mưa và cho phép tích sớm lên MNDBT ngay sau khi kết thúc lũ chính vụ. Sớm có giải pháp điều chỉnh lưu lượng và thời gian xả đối với các hồ chứa gần như không thể tích nước trong thời gian tới (lưu vực sông Cả, sông Mã)

Bộ NN&PTNT chỉ đạo các đơn vị, địa phương có liên quan khẩn trương thực hiện các giải pháp trước mắt và lâu dài và sớm có những phương án để chủ động lấy nước phục vụ tưới vụ Đông Xuân 2019-2020 trong điều kiện lượng nước xả từ các hồ chứa Hòa Bình, Tuyên Quang, Thác Bà thiếu hụt so với mọi. Đặc biệt là giải pháp lắp đặt các trạm bơm dã chiến để có thể bơm lấy nước từ sông Hồng không phụ thuộc vào việc xả nước từ các hồ chứa thủy điện.

Tại buổi làm việc, Thứ trưởng Bộ TN&MT Lê Công Thành năm nay là năm thời tiết diễn biến rất cực đoan khiến cả nước đều trong tình trạng khô hạn. Đối với lưu vực sông Hồng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc cấp nước đổ ải phục vụ sản xuất nông nghiệp cho đồng bằng Bắc Bộ nên Bộ TN&MT nhất trí với những kiến nghị của EVN để tích nước hồ chứa thủy điện Hòa Bình từ nay đến cuối năm.

Cùng với đó, Thứ trưởng Bộ TN&MT đề nghị Bộ NN&PTNT cần tính toán thay đổi mùa vụ, chuyển đổi cây trồng từ lúa nước sang cây trồng ít dùng đến nguồn nước hơn, đồng thời tính toán kỹ càng xem có cần các hồ thủy điện xả 3 đợt để phục vụ đổ ải như các năm trước hay không để lượng nước đổ ải vụ Đông Xuân càng giảm càng tốt nhằm tiết kiệm nguồn nước – nguồn tài nguyên quốc gia.

Thứ trưởng Lê Công Thành đề nghị Tổng cục Khí tượng Thủy văn, EVN tiếp tục theo dõi diễn biến tình hình lưu lượng nước về hồ thủy điện để đến 15/11, Bộ sẽ chủ trì cuộc họp với các bộ, ngành liên quan có văn bản báo cáo xin ý kiến Thủ tướng Chính phủ về tình trạng khô hạn này để có giải pháp lâu dài.

Đến mùa mưa bão hàng năm, Công ty ĐHĐ phối hợp với các cấp chính quyền địa phương thực hiện công tác kiểm tra tình trạng dòng chảy thoát lũ kết hợp tuyên truyền vận động người dân không canh tác trong phạm vi hành lang thoát lũ để hạn chế đến mức thấp nhất các thiệt hại có thể xảy ra trong trường hợp phải vận hành xả lũ theo quy trình vận hành liên hồ chứa.

Phòng NN&PTNT huyện Tánh Linh tiếp nhận thiết bị giám sát trực tuyến hồ chứa Hàm Thuận

Nhằm tiếp tục nâng cao và phát huy hiệu quả công tác phối hợp với địa phương, chủ động theo dõi, giám sát một cách kịp thời và trực quan về tình hình thủy văn, việc vận hành xả nước qua các cửa tràn đối với các hồ chứa, trong mùa mưa bão năm 2019, Công ty ĐHĐ đã lắp đặt hệ thống thiết bị giúp giám sát trực tuyến mực nước hồ và tình trạng vận hành các cửa xả thủy điện qua hệ thống camera quan sát. Hệ thống giám sát trực tuyến được Công ty lắp đặt tại Phòng NN&PTNT huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận và huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng gồm máy tính để bàn kết nối Internet để truy cập hình ảnh các camera, máy in đa năng và màn hình Tivi 43-inch độ phân giải cao để giám sát liên tục mực nước hồ và tình trạng vận hành các cửa xả.

Phòng NN&PTNT huyện Tánh Linh sử dụng thiết bị giám sát trực tuyến

Đánh giá về việc Công ty ĐHĐ chủ động lắp đặt thiết bị để địa phương trực tiếp giám sát mực nước hồ và công tác vận hành hồ thủy điện, ông Võ Văn Ty - Phó trưởng phòng NN&PTNT huyện Tánh Linh chia sẻ: “Đây là một việc làm rất thiết thực của Công ty ĐHĐ. Trước đây, mặc dù Công ty đã phối hợp rất tốt với địa phương trong công tác vận hành, điều tiết xả lũ nhưng thông tin chưa được như mong muốn. Mặc dù các số liệu được báo cáo đầy đủ qua công văn, email, tin nhắn… nhưng vẫn thiếu trực quan. Khi trực phòng chống lụt bão, đôi lúc cán bộ làm việc không hình dung được với mực nước, độ mở cửa như thế thì trên hiện trường sẽ như thế nào. Với trang thiết bị vừa được Công ty lắp đặt, chúng tôi thấy trực quan mực nước hồ, tình trạng trước và sau cửa xả tràn, tình trạng dòng chảy môi trường…mà không phải tưởng tượng như trước đây nữa. Những thông tin trực quan này cực kỳ hữu ích cho huyện Tánh Linh trong công tác phối hợp vận hành hồ chứa thủy điện”.

Ông Võ Văn Ty - PTP. NN&PTNT huyện Tánh Linh

Đại diện Phòng NN&PTNT huyện Đơn Dương cũng đánh giá cao hiệu quả của các thiết bị vừa được lắp đặt. Trong thời gian sắp tới, Ban chỉ huy PCTT&TKCN của huyện có thể quan sát hình ảnh và phối hợp với Công ty ĐHĐ trong việc vận hành hồ Đơn Dương đồng thời chủ động báo cáo đến cấp trên thông tin kèm theo hình ảnh được chụp lại từ các camera để kịp thời ứng phó các diễn biến trong mùa mưa lũ.

BCH PCTT&TKCN huyện Đơn Dương tiếp nhận thiết bị giám sát trực tuyến hồ chứa Đơn Dương

Công tác vận hành các hồ chứa thủy điện trong mùa mưa lũ đối diện nhiều khó khăn, thử thách. Tuy nhiên, những khó khăn và thử thách trên có thể được giảm thiểu khi có sự chủ động, phối hợp nhịp nhàng giữa nhà máy thủy điện và địa phương để công tác vận hành hồ chứa đúng quy trình, đảm bảo an toàn và hiệu quả.

Theo Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Quốc gia, áp thấp nhiệt đới đang di chuyển nhanh và tiếp tục mạnh lên. Các chuyên gia cũng nhận định rằng, áp thấp nhiệt đới tương tự như cơn bão Damrey hồi tháng 11/2017 đổ bộ vào Khánh Hòa gây gió mạnh và mưa rất lớn, nên các địa phương không được chủ quan.

Khoảng chiều tối 30/10, áp thấp nhiệt đới sẽ mạnh lên thành bão, ảnh hưởng trực tiếp tới đất liền các tỉnh, TP khu vực Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Đây là cơn áp thấp nhiệt đới có tính chất rất phức tạp, nguy hiểm do tác động của dải hội tụ nhiệt đới, không khí lạnh.

Từ ngày 31/10 đến 2/11, các tỉnh từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên - Huế có mưa to đến rất to, tổng lượng mưa phổ biến 200-300 mm/đợt, riêng các tỉnh: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình 300-500 mm/đợt.

Để chủ động phòng, chống, hạn chế thiệt hại do áp thấp nhiệt đới gây ra, Tổng công ty Phát điện 1 đã yêu cầu Công ty Thủy điện Sông Tranh; Công ty Thủy điện Đại Ninh; Công ty Thủy điện Đồng Nai; Công ty Cổ phần Thủy điện Đa Nhim - Hàm Thuận - Đa Mi khẩn trương thực hiện các công việc sau:

Thường xuyên theo dõi các thông tin cập nhật của Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia (địa chỉ website: www.kttv.gov.vn) và tham khảo các trang thông tin dự báo của Quốc tế để chủ động có các giải pháp ứng phó kịp thời.

Triển khai phương án để ứng phó với áp thấp nhiệt đới dự báo mạnh lên thành bão, xử lý kịp thời các tình huống, đảm bảo an toàn cung cấp điện, an toàn cho người, thiết bị, công trình và an toàn cho nhân dân, chuẩn bị đầy đủ nguồn lực, trang thiết bị, phương tiện, vật tư để khắc phục kịp thời các sự cố do thiên tai gây ra trong thời gian nhanh nhất.

Tổ chức quan trắc, thu thập thông tin về khí tượng thủy văn, chủ động phối hợp với Ban Chỉ huy PCTT&TKCN tỉnh để vận hành hồ chứa an toàn, hiệu quả; Tham gia cắt/giảm/làm chậm lũ, đảm bảo an toàn cho công trình và vùng hạ du; Triển khai thực hiện các phương án đảm bảo an toàn hồ đập, vùng hạ du hồ chứa và các công trình đang thi công dở dang, đặc biệt là các điểm xung yếu, các sự cố do các đợt mưa lũ trước chưa được khắc phục; Bố trí lực lượng để chủ động xử lý kịp thời các tình huống mất an toàn có thể xảy ra, đặc biệt biệt là tình huống xả lũ khẩn cấp; Báo cáo và thông báo kịp thời, đúng quy định cho các địa phương và cơ quan liên quan, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho người, thiết bị, công trình, hồ chứa, vùng hạ du.

Đặc biệt, Các Đơn vị tổ chức trực ban nghiêm túc 24/24h, tăng cường kiểm tra công tác chuẩn bị phòng, chống, xử lý kịp thời ảnh hưởng của ATNĐ; báo cáo nội dung liên quan về thường trực BCH PCTT&TKCN Tổng công ty vào 7h00 và 14h30 hàng ngày và cập nhật báo cáo số liệu vào trang Web (https://phongchongthientai.evn.com.vn).

Tại buổi làm việc, ông Ngô Sơn Hải đánh giá cao nỗ lực của Công ty trong thời gian qua khi luôn đảm bảo các tổ máy vận hành an toàn, ổn định, hệ số khả dụng luôn đạt 90%, suất tiêu hao than đạt yêu cầu của Tập đoàn. 

 

Công ty Nhiệt điện Nghi Sơn:

- Thuộc Tổng công ty Phát điện 1 (Tập đoàn Điện lực Việt Nam)

- Địa chỉ: xã Hải Hà, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa

- Công suất: 600 MW (2x300 MW)

- Sản lượng điện hàng năm: 3,6 tỷ kWh

Dự báo, năm 2020 sẽ rất khó khăn về nguồn cung cấp điện. Theo tính toán, đến hết năm 2019, các hồ chứa thủy điện sẽ không thể tích nước hồ chứa được đến mực nước dâng bình thường, dẫn đến thiếu hụt sản lượng điện so với các năm trước. Bên cạnh đó, các nguồn điện mới vào vận hành trong năm tới cũng không đáng kể.

Chính vì vậy, một trong những giải pháp quan trọng nhằm đảm bảo điện năm 2020 là nâng cao năng lực vận hành các tổ máy nhiệt điện than, trong đó phấn đấu các nhà máy đều vận hành đạt trên 7.000 giờ/năm.

“Riêng đối với Nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn, phấn đấu độ khả dụng các tổ máy cao nhất từ trước đến nay, đạt trên 90%, cùng với đó các tổ máy vận hành 7.000-7.500 giờ/năm, phấn đấu đạt sản lượng điện 4,2-4,5 tỷ kWh trong năm 2020”, ông Ngô Sơn Hải yêu cầu.

Để đạt được mục tiêu trên, ông Ngô Sơn Hải đề nghị Công ty Nhiệt điện Nghi Sơn cần chủ động nguồn cung cấp than cho Nhà máy, trong đó sớm hoàn thiện ký hợp đồng mua than từ Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV), yêu cầu đơn vị cung cấp than phải đảm bảo chất lượng với nhiệt trị cao, cùng với đó phải đảm bảo luôn than có dự phòng cho phát điện 15 ngày.

Ngoài ra, Công ty đẩy mạnh triển khai các giải pháp bảo dưỡng sửa chữa theo độ tin cậy tổ máy (RCM) để từ đó rút ngắn thời gian sửa chữa, giúp số giờ vận hành tổ máy cao hơn, giúp hoạt động sản xuất điện được hiệu quả hơn.

Phó Tổng giám đốc EVN Ngô Sơn Hải phát biểu tại buổi làm việc - Ảnh: Xuân Tiến

Tại buổi làm việc, ông Vũ Xuân Khu – Phó Giám đốc Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia (A0) cho biết: Tính đến nay, sản lượng điện sản xuất của Công ty Nhiệt điện Nghi Sơn là 3,129 tỷ kWh. 2 tháng cuối năm, A0 sẽ huy động cao công suất Nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn, với sản lượng năm 2019 dự kiến 3,922 tỷ kWh cao hơn kế hoạch của Bộ Công Thương giao (3,868 tỷ kWh).

“Nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn nằm ở vị trí rất quan trọng của lưới điện quốc gia, bên cạnh giữ được độ khả dụng cho hệ thống rất lớn, còn có ý nghĩa chống quá tải máy biến thế tại TBA 500 kV Nho Quan. Dự kiến năm 2020 trào lưu truyền tải điện không phải từ Bắc vào Nam nữa mà từ miền Nam trở ra. Chính vì vậy, Công ty cần chuẩn bị mọi lực lượng để sẵn sàng vận hành ở mọi thời điểm khi có yêu cầu của hệ thống”, ông Khu cho biết.

Ông Võ Mạnh Hà – Phó Giám đốc phụ trách Công ty Nhiệt điện Nghi Sơn cho biết: Trong 10 tháng qua, 6/7 chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của Công ty đều đạt so với yêu cầu đặt ra gồm: Tổng sản lượng điện sản xuất, suất tiêu hao than, tỷ lệ điện tự dùng, hệ số khả dụng, tỷ lệ ngừng máy do sự cố và tỷ lệ ngừng máy do bảo dưỡng, sửa chữa có kế hoạch. Riêng chỉ tiêu suất tiêu hao nhiệt đạt xấp xỉ so với kế hoạch.

Để đảm bảo vận hành tối ưu Nhà máy trong năm 2020, bên cạnh việc ký kết hợp đồng mua than của TKV để chuẩn bị sẵn nguồn nhiên liệu, Công ty đẩy nhanh công tác sửa chữa lớn tổ máy 2 và các hạng mục dùng chung đạt tiến độ và chất lượng đề ra.

Công ty từng bước chuyển hình thức bảo dưỡng sửa chữa theo thời gian vận hành của thiết bị sang hình thức bảo dưỡng sửa chữa trên cơ sở đánh giá tình trạng thiết bị, hình thức bảo dưỡng tập trung vào độ tin cậy (RCM). Hiện Công ty đã hoàn thành lắp đặt thử nghiệm hệ thống giám sát rung đảo cho các thiết bị quay quan trọng như: Tua bin – máy phát; Bơm cấp; Bơm ngưng; Bơm tuần hoàn; Quạt gió để thu thập dữ liệu online và đánh giá tình trạng thiết bị nhằm đưa ra kế hoạch sửa chữa bảo dưỡng phù hợp.

“Đặc biệt, Công ty sẽ ứng dụng hiệu quả phần mềm PMIS trong quản lý kỹ thuật nguồn điện. Cập nhật đầy đủ các dữ liệu bảo dưỡng sửa chữa, chu kỳ bảo dưỡng sửa chữa để có thể đánh giá chính xác trình trạng thiết bị, các khiếm khuyết trong quá trình vận hành. Từ đó đưa ra giải pháp vận hành tối ưu, cũng như khuyến cáo sữa chữa kịp thời”, ông Võ Mạnh Hà cho biết.

Một số hình ảnh Phó Tổng giám đốc EVN Ngô Sơn Hải kiểm tra tại Công ty Nhiệt điện Nghi Sơn:

Phó Tổng giám đốc EVN Ngô Sơn Hải cùng đoàn công tác kiểm tra thông số vận hành tại Nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn

Phó Tổng giám đốc EVN Ngô Sơn Hải kiểm tra tại cảng than của Nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn

Nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn

 

Theo Phó Tổng giám đốc EVN Ngô Sơn Hải, để đảm bảo cung ứng điện cho đất nước, năm 2020, EVN dự tính phải huy động tối đa các nhà máy nhiệt điện than. Lãnh đạo Tập đoàn yêu cầu Công ty Nhiệt điện Duyên Hải (thuộc Tổng công ty Phát điện 1) tập trung mọi nguồn lực, sẵn sàng các giải pháp đảm bảo vận hành Nhà máy Nhiệt điện (NMNĐ) Duyên Hải 1, Duyên Hải 3 đáp ứng huy động cao từ hệ thống. Các tổ máy cần đảm bảo độ khả dụng cao với mục tiêu vận hành hơn 7.000 giờ trong năm 2020.

Tổng công ty Phát điện 1/Công ty Nhiệt điện Duyên Hải cần chú trọng đảm bảo nhiên liệu cho sản xuất điện, chủ động nhập than. Đồng thời, làm việc với Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, Tổng công ty Đông Bắc để ký kết hợp đồng, nhằm đảm bảo đủ than cho phát điện năm 2020 và 5 năm tới.

Cần linh hoạt thực hiện các giải pháp quản lý, kỹ thuật nhằm đảm bảo năng suất bốc dỡ than, phối hợp với các đối tác để điều phối tàu chở than có trọng lượng phù hợp; nghiên cứu thực hiện nạo vét, xử lý việc bồi lắng tại luồng cảng biển Duyên Hải.

Công ty cũng cần hoàn thành tiểu tu 4 tổ máy của Nhiệt điện Duyên Hải 1, Duyên Hải 3 trong năm 2019, kiểm soát tốt tình trạng vận hành của các thiết bị, đảm bảo độ khả dụng, tin cậy cao, tiếp tục nâng cao năng lực đội ngũ vận hành.

Vận hành tin cậy, kinh tế gắn với bảo vệ môi trường

Tổng sản lượng điện sản xuất của các nhà máy Duyên Hải 1, 3 từ ngày 1/1 đến 21/10/2019 đạt 13,2 tỷ kWh. Trong đó, NMNĐ Duyên Hải 3 đã sản xuất vượt 14,3% kế hoạch giao trong mùa khô, góp phần cùng Tập đoàn đảm bảo điện cho đất nước, đặc biệt trong giai đoạn hệ thống điện vận hành căng thẳng nhất.

Suất tiêu hao than của 2 nhà máy qua thực hiện 9 tháng đầu năm đều tốt hơn so với yêu cầu của Tập đoàn, Tổng công ty giao. So với cùng kỳ năm 2018, nhờ hạn chế tiêu hao nhiên liệu, Công ty Nhiệt điện Duyên Hải đã tiết kiệm được tới 579.000 tấn than. Nhờ vận hành tin cậy các tổ máy và thiết bị, giảm suất sự cố,  Công ty đã tiết kiệm được khoảng 50% lượng dầu FO dùng cho khởi động tổ máy so với cùng kỳ năm 2018, tối ưu hoá chi phí sản xuất.

Ông Nguyễn Văn Thú – Giám đốc Công ty Nhiệt điện Duyên Hải cho biết, Công ty đã thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp về quản lý nhiên liệu than ngay từ khâu tiếp nhận tại cảng biển Duyên Hải tới dây chuyền sản xuất, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, lập kế hoạch chi tiết và triển khai kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật theo từng giờ, từng ngày. Đồng thời, Công ty cũng thực hiện mô hình chuyên gia song hành cùng quá trình sản xuất, nhằm đảm bảo tính khả dụng của các tổ máy, thiết bị.

Hướng tới phát triển bền vững, Công ty cũng chú trọng phát triển bền vững, gắn sản xuất với bảo vệ môi trường. 2 NM được EVN đầu tư các công nghệ hiện đại: Hệ thống lọc bụi tĩnh điện ESP với hiệu quả lọc bụi đạt 99,7%, có thể vận hành ở mọi mức tải; hệ thống SCR xử lý NOx bằng NH3. Với khí SO2, các nhà máy được áp dụng công nghệ Sea-FGD, dùng nước biển thay đá vôi khử khí, không tạo thêm chất thải rắn là thạch cao.

Các nhà máy đều đã được lắp đặt hệ thống quan trắc online, kết nối cung cấp các dữ liệu môi trường về Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh Trà Vinh. Qua kết quả giám sát môi trường theo định kỳ, các chỉ tiêu phát thải đều nằm trong giới hạn cho phép, đảm bảo môi trường.

Một số hình ảnh tại buổi làm việc:

Phó Tổng giám đốc EVN Ngô Sơn Hải chủ trì buổi làm việc với Công ty Nhiệt điện Duyên Hải

                                        

                                       PTGĐ EVN Ngô Sơn Hải (ngoài cùng bên phải) kiểm tra công tác bốc dỡ than tại Cảng biển Duyên Hải

Các nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 1, 3 đều đáp ứng các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường 

Triển khai thực hiện chuỗi các hoạt động của Ngày hội Văn hóa Cơ quan Tổng công ty năm 2019, EVNGENCO1 tổ chức thi trắc nghiệm VHND trên Website Tổng công ty với các nội dung triển khai cụ thể như sau:

1. Mục đích: Tuyên truyền, phổ biến, giúp CBCNV hiểu rõ hơn về Bộ tài liệu VHDN và Bộ quy tắc ứng xử của Tổng công ty.

2. Thời gian thi: kể từ ngày đăng tải trên website đến hết 17h00, ngày 06/11/2019;

3. Đối tượng tham gia thi: CBCNV Văn phòng, các Ban Tổng công ty.

4. Cơ cấu giải thưởng:

+ 01 giải Nhất: 1.000.000 đồng/giải;

+ 02 giải Nhì: 800.000 đồng/giải;

+ 03 giải Ba: 600.000 đồng/giải;

+ 05 giải Khuyến khích: 400.000 đồng/giải;

Tổng chi phí giải thưởng: 6.400.000 đồng.

5. Cách thức chấm thi: theo số câu trả lời đúng và thời gian làm bài thi nhưng phải đảm bảo:

+ Giải Nhất: có từ 25 câu trả lời đúng trở lên;

+ Giải Nhì: có từ 22 câu trả lời đúng trở lên;

+ Giải Ba: có từ 20 câu trả lời đúng trở lên;

+ Giải Khuyến khích: có từ 17 câu trả lời đúng trở lên;

- Thời gian công bố và trao giải: trong buổi Gala diner ngày 9/11/2019 – Chương trình Ngày hội Văn hóa Cơ quan Tổng công ty năm 2019.

Trân trọng kính mời toàn thể CBCNV truy cập đường link này để tham gia: 

https://forms.gle/rP3Qo9W9sPd5FPyn7